Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu lý do kiến “Big Little Lies” là một tác phẩm bậc thầy trong nghệ thuật làm phim.

Do David E. Kelley biên kịch và thực hiện, Big Little Lies là một trong những show truyền hình nổi tiếng nhất, giành được rất nhiều giải thưởng danh giá như Golden Globes và Primetime Emmys, bao gồm những giải cao quý như “Best Miniseries” và “Outstanding Limited Series”. Vậy thì, điều gì làm nên thành công này.

Series kể về 3 người phụ nữ, do Nicole Kidman, Reese Witherspoon và Shailene Woodley đóng, họ bị điều tra trong một vụ án giết người, và khi các bí ẩn của vụ án dần được lộ diện, câu chuyện lại càng trở nên phức tạp hơn và căng thẳng hơn. Nhưng phim không chỉ hay vì diễn xuất tuyệt vời của các nữ diễn viên gạo cội, nó còn có một cách tiếp cận về mặt kể chuyện bằng hình ảnh hết sức thông minh.

Trong video essay dưới đây, Michal Zak tổng kết lại các kỹ thuật khác nhau mà đạo diễn Jean-Marc Vallée dùng để tạo ra trải nghiệm hết sức độc đáo trong Big Little Lies, từ các blocking cho đến cách dùng Greek Chorus.

https://youtube.com/watch?v=Ejd1EnlFdNs%3Ffeature%3Doembed

Theo Zak, Big Little Lies là một phim “thriller trá hình”, có nghĩa là một số ẩn ý nhất định của thể loại này đóng một vai trò quan trọng, cụ thể là việc người ta loại bỏ các cảnh mang đến sự thoải mái và quen thuộc. Tất cả các khía cạnh của việc làm phim, từ quay phim đến dựng phim, được sử dụng để khiến khán giả hoang mang, căng thẳng và không thể dự đoán điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Dưới đây là các phương pháp mà Zak nhắc đến, giúp đảm bảo rằng khán giả luôn phải bám theo câu chuyện.

Ít (thậm chí là không có) shot thiết lập: “Shot thiết lập” được dùng trong phim này không phải là kiểu quay “ngoài mặt” điển hình, mà là shot mang đến cho khán giả một lượng thông tin đang kể, về việc họ đang xem cái gì và cảnh đó nói về ai.

“Peeping”: Có lẽ chủ đề lớn nhất trong Big Little Lies là người ta có thể theo dõi, hoặc quan sát, vì vậy, một cách tự nhiên, chúng ta xem các cảnh diễn ra dưới góc nhìn của một trong những nhân vật. Điều này không chỉ tạo ra sự căng thẳng và nghi ngờ xung quanh câu chuyện chính, kẻ giết người và nạn nhân, mà nó còn mang đến cho khán giả một cơ hội được nhìn thấy các nhân vật trong những khoảnh khắc dễ bị tổn thương nhất của họ, những khoảnh khắc mà họ không nghĩ rằng có ai đó đang nhìn họ.

Greek Chorus: Phong cách kể chuyện này tự thân nó vốn đã khá thú vị, nhưng Big Little Lies bổ sung thêm một lớp khác bằng cách làm cho các nhân vật thiên vị, khiến lời khai của họ trở nên không đáng tin cậy. Bạn không bao giờ biết phải tin cái gì hay tin ai.

Eyeline: Bộ phim không bỏ phí bất kỳ cơ hội nào để lợi dụng cái chủ đề “peeping” của nó. Trên thực tế, nó liên tục dùng eyeline để nói cho khán giả biết nên nhìn vào đâu và họ đang nhìn dưới góc nhìn của ai.

Các chuyển đổi: Chuyển đổi giữa các cảnh cũng hết sức độc đáo, trong đó, theo như Zak nói, cảnh trước “chảy” vào cảnh tiếp theo. Để làm được điều này, rất nhiều chuyển đổi bao gồm các J-cut hoặc edit trong đó âm thanh của shot sau đi trước hình ảnh, nhịp điệu cắt và match cut.

Montages: Cũng giống như mục ở trên, quá trình cắt phim cũng được hưởng lợi rất nhiều từ các kỹ thuật chuyển đổi đã nhắc đến. Các montage này không chỉ phong cách và thú vị mà chúng còn được sử dụng để minh hoạ cách mỗi tuyến truyện được kết nối với nhau thông qua trải nghiệm của các nhân vật.

“Thought Cut”: Làm sao mà bạn biết được nhân vật đang nghĩ cái gì? Trong Big Little Lies, chúng ta thấy các cut trước hoặc các sự kiện tưởng tượng không có âm thanh bất ngờ xuất hiện trên màn hình. Zak gọi cái này là “Thought Cut”.

Âm nhạc chết người: Một vụ giết người bí ẩn tự nó đã rất thú vị rồi, nhưng nếu không có các nhân vật liên quan, có tính đa chiều, bạn sẽ thực sự làm giảm đi sự hứng thú của khán giả. Để chống lại điều này, Vallée đày đoạ người xem thông qua các chi tiết làm chúng ta quan tâm hơn đến các nhân vật và một trong những cách anh sử dụng để thực hiện điều này là sử dụng âm nhạc chết người để kết nối cảm xúc của người xem với cảm xúc của nhân vật. Khi bộ phim phát một bản nhạc buồn, chúng ta – tức người xem – và nhân vật đều nghe thấy nó và có các phản ứng về mặt cảm xúc với nó, kết nối cảm xúc của chúng ta với cảm xúc của các nhân vật trên màn ảnh.

Nguồn: No Film School

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch